VIÊM GAN B VÀ UNG THƯ GAN

VIÊM GAN B VÀ UNG THƯ GAN

Chia sẻ:

Share on facebook
Share on twitter
VIÊM GAN B VÀ UNG THƯ GAN

 

 

 

Viêm gan B (còn gọi là viêm gan virus B hay viêm gan siêu vi B) là tình trạng sưng tấy hoặc hoại tử tế bào gan cấp hoặc mạn tính, có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng như xơ gan hoặc ung thư gan.

I. VIÊM GAN B TẠI VIỆT NAM  

• Việt Nam là quốc gia có tỷ lệ mắc viêm gan B rất cao. Cứ khoảng 8 người sẽ có 1 người mắc viêm gan B mạn.

• Ung thư gan là một trong các loại ung thư thường gặp và gây tử vong cao nhất Việt Nam. Năm 2013, có khoảng 31.000 ca tử vong do ung thư gan tại Việt Nam.

• Tại Việt Nam, ung thư gan là ung thư thường gặp nhất ở nam giới và thường gặp thứ 3 ở nữ giới.

• Người mắc viêm gan B mạn tại Việt Nam chủ yếu do lây truyền từ mẹ sang con.

1. Viêm gan B là “kẻ giết người thầm lặng”

• Viêm gan B mạn rất nguy hiểm vì thường không có triệu chứng rõ ràng. Nhiều người vẫn có kết quả xét nghiệm men gan bình thường.

• Đa số người mắc viêm gan mạn không biết mình mắc bệnh.

• Khi có các biểu hiện lâm sàng thì thường bệnh đã ở giai đoạn muộn.

2. Viêm gan B là nguyên nhân chính gây ung thư gan

• Ung thư gan là loại ung thư gây ra số ca tử vong cao thứ 2 trong tất cả các loại ung thư.

• Viêm gan B là nguyên nhân hàng đầu gây ung thư gan, là nguyên nhân của 37% các trường hợp tử vong do ung thư gan trên thế giới.

• Người mắc viêm gan B mạn có nguy cơ bị ung thư gan cao gấp 100 lần so với người không mắc.

3. Cần phát hiện sớm ung thư gan

• Ung thư gan diễn biến âm thầm, thường không có triệu chứng cho đến khi bệnh chuyển sang giai đoạn muộn.

• Người mắc viêm gan B do lây từ mẹ khi sinh hoặc ở lứa tuổi nhỏ có thể tiến triển thành ung thư rất sớm, thậm chí ở tuổi thành niên.

• Nếu chẩn đoán muộn, ung thư gan là loại ung thư khó điều trị nhất. Tỷ lệ sống sót sau 5 năm phát hiện ra bệnh chỉ khoảng 10%.

• Ung thư gan có thể được chẩn đoán sớm thông qua khám sàng lọc định kỳ, và có thể điều trị hiệu quả ở giai đoạn sớm.

II. VIÊM GAN B LÂY TRUYỀN NHƯ THẾ NÀO?

Virus viêm gan B tồn tại trong máu và dịch thể, có thể lây theo 3 đường: Từ mẹ sang con khi sinh, qua đường máu, và qua quan hệ tình dục không bảo vệ.

– Lây từ mẹ sang con

Viêm gan B có thể lây từ mẹ sang con trong lúc sinh. Đây là đường lây truyền phổ biến nhất tại Việt Nam và là nguyên nhân gây viêm gan B thường gặp nhất. Nhiều phụ nữ mang thai không biết mình bị viêm gan B do không có triệu chứng và không được xét nghiệm.

– Lây qua đường máu

Viêm gan B có thể lây qua tiếp xúc trực tiếp với máu nhiễm virus. Ví dụ:

• Tiếp xúc trực tiếp giữa các vết thương

• Dùng chung dao cạo hoặc bàn chải đánh răng đã có nhiễm máu

• Tái sử dụng bơm kim tiêm hoặc dụng cụ y tế

• Truyền máu không an toàn

– Lây qua quan hệ tình dục

Viêm gan B có thể lây qua quan hệ tình dục không dùng bao cao su. Mặc dù dùng bao cao su có thể giảm nguy cơ truyền viêm gan B, cách tốt nhất để phòng bệnh viêm gan B vẫn là tiêm phòng.

III. VIÊM GAN B CẤP VÀ MẠN TÍNH

1. Tiến triển thành viêm gan tối cấp và tử vong do suy gan

Gây tổn thương nhiều tế bào gan nặng nề, dẫn tới suy gan cấp hoặc thậm chí tử vong. Rất may là điều này chỉ xảy ra ở tỷ lệ nhỏ (1%).

2. Phục hồi sau khi nhiễm trùng và tạo ra miễn dịch bảo vệ

Cơ thể loại bỏ virus viêm gan B sau vài tháng và tạo được miễn dịch bảo vệ suốt đời (có triệu chứng hoặc không). Hiện nay không có thuốc chữa khỏi viêm gan B cấp mà chỉ có thuốc điều trị hỗ trợ.

3. Tiến triển thành viêm gan B mạn

Cơ thể không loại bỏ virus dẫn tới mắc viêm gan mạn suốt đời. Hiện nay đã có thuốc kháng virus điều trị hiệu quả viêm gan B mạn. Tuy nhiên, bệnh nhân vẫn cần khám theo dõi và sàng lọc ung thư gan định kỳ để phát hiện sớm tổn thương gan. Nếu không được điều trị và theo dõi đúng cách, khoảng ¼ người mắc viêm gan B mạn sẽ tử vong do xơ gan, ung thư gan hoặc suy gan.

IV. XÉT NGHIỆM SÀNG LỌC VIÊM GAN B CHO NHỮNG NGƯỜI CÓ NGUY CƠ CAO

– Tầm quan trọng của việc xét nghiệm sàng lọc viêm gan B

Đa số người mắc viêm gan B không có triệu chứng. Vì vậy, cần xét nghiệm sàng lọc những người có nguy cơ mắc để:

• Chẩn đoán viêm gan B mạn để theo dõi và điều trị kịp thời

• Kiểm tra xem đã có miễn dịch bảo vệ chưa để tiêm vaccine dự phòng

• Giảm thiểu việc tiêm phòng vaccine không cần thiết. Những người đã mắc viêm gan B mạn hoặc đã có miễn dịch bảo vệ (do đã tiêm phòng hoặc do mắc viêm gan B trước đây) không cần tiêm vaccine.

– Xét nghiệm sàng lọc viêm gan B bằng các xét nghiệm đơn giản sau đây:

1) HBsAg (Còn gọi là kháng nguyên bề mặt)

Xét nghiệm HBsAg là cách duy nhất để chẩn đoán viêm gan B mạn. Nếu HBsAg(+) kéo trên 6 tháng nghĩa là bệnh nhân đã mắc viêm gan B mạn. Do phần lớn bệnh nhân viêm gan B tại Việt nam mắc virus từ lúc sinh hoặc khi còn nhỏ, xét nghiệm HBsAg(+) thường có nghĩa là đã mắc viêm gan B mạn. Người có HBsAg(+) cần được tư vấn và khám định kỳ để giảm nguy cơ tiến triển thành bệnh gan mạn và ung thư gan.

2) Anti-HBs

Xét nghiệm Anti-HBs là để kiểm tra xem đã có miễn dịch bảo vệ hay chưa. Anti-HBs tạo ra sau tiêm phòng hoặc do trước đây đã mắc virus viêm gan B và tự hồi phục.

3) Các xét nghiệm viêm gan B khác

  • Total Anti-HBc

Là xét nghiệm để kiểm tra xem bệnh nhân đã từng mắc virus trước đây chưa. Xét nghiệm này rất hữu ích trong việc sàng lọc khi truyền máu nhưng không phân biệt được người hiện đang mắc viêm gan B mạn với người đã hồi phục và có miễn dịch bảo vệ với viêm gan B.

  • IgM Anti-HBc

Là xét nghiệm để xác định tình trạng nhiễm virus viêm gan B.

Chỉ làm xét nghiệm IgM Anti-HBc nếu nghi ngờ bệnh nhân mới nhiễm virus viêm gan B gần đây (do kim đâm khi tiêm hoặc do quan hệ tình dục không bảo vệ với người mắc viêm gan B). Nếu mắc viêm gan B cấp, bệnh nhân có thể tiến triển thành mạn tính hoặc không.

4) Những ai cần xét nghiệm sàng lọc viêm gan B

TẤT CẢ PHỤ NỮ MANG THAI cần được sàng lọc viêm gan B để phòng lây truyền sang con. Ngoài ra, do Việt Nam có tỷ lệ mắc viêm gan B cao, mọi người đều nên xét nghiệm ít nhất một lần để biết mình có mắc viêm gan B hoặc đã có miễn dịch bảo vệ chưa.

V. THEO DÕI TỔN THƯƠNG GAN

1. Thường xuyên theo dõi mức độ tổn thương gan

Đa số người mắc viêm gan B mạn không có triệu chứng và cảm thấy hoàn toàn bình thường, mặc dù có thể đã có xơ gan hoặc ung thư gan giai đoạn đầu. Vì vậy, khi theo dõi người bệnh viêm gan mạn cần lưu ý kiểm tra các dấu hiệu viêm gan, tổn thương gan hoặc xơ gan; và cần tiến hành sàng lọc ung thư gan định kỳ.

2. Xét nghiệm men gan (ALT) 6 tháng một lần

Xét nghiệm men gan là một trong các xét nghiệm cần thiết và ít tốn kém để đánh giá bệnh nhân có cần dùng thuốc điều trị hay không. ALT tăng cao là một dấu hiệu chỉ điểm của tổn thương gan. Nếu men gan bình thường thì có thể không cần làm thêm các xét nghiệm khác để quyết định điều trị, trừ khi có biểu hiện xơ gan hoặc đang dùng hóa chất điều trị ung thư.

3. Các xét nghiệm khác

  • Xét nghiệm tải lượng virus bằng PCR (còn gọi là xét nghiệm HBV DNA)

Là xét nghiệm đo tải lượng virus trong máu. Trong điều kiện cho phép, nên xét nghiệm PCR khi bắt đầu điều trị viêm gan B. Nếu bệnh nhân có ALT cao, xét nghiệm tải lượng virus sẽ giúp khẳng định tổn thương gan có phải do virus viêm gan B gây ra hay không và củng cố bằng chứng cho chỉ định điều trị. Nếu tải lượng virus giảm hoặc giảm xuống dưới ngưỡng phát hiện chứng tỏ bệnh nhân đáp ứng điều trị tốt. Nên làm tải lượng virus 6-12 tháng/lần để đánh giá hiệu quả điều trị và phát hiện sớm kháng thuốc.

  • HBeAg và Anti-HBe

Nên xét nghiệm HBeAg sau khi có kết quả khẳng định viêm gan B mạn. HBeAg là dấu ấn đánh giá mức độ hoạt động của virus và gián tiếp phản ánh kết quả tải lượng virus trong máu (mặc dù một số chủng virus đột biến có tải lượng virus cao nhưng xét nghiệm HBeAg vẫn âm tính). Nếu HBeAg(+), nên xét nghiệm lại hàng năm để theo dõi mức độ hoạt động của virus. Nếu có chuyển đổi huyết thanh (HBeAg chuyển từ + sang – và xuất hiện Anti-HBe) là dấu hiệu đáp ứng điều trị tốt. Có thể phải điều trị nhiều năm mới có chuyển đổi huyết thanh. Tuy nhiên cần lưu ý rằng xuất hiện Anti-HBe không có nghĩa là bệnh nhân đã khỏi bệnh hoàn toàn và không cần tiếp tục điều trị. Một số bệnh nhân mang virus viêm gan B thể đột biến không tạo ra HBeAg, vì vậy xét nghiệm tải lượng virus vẫn cho kết quả đánh giá mức hoạt động của virus chính xác hơn.

  • Số lượng tiểu cầu và albumin

Số lượng tiểu cầu thấp (dưới 150,000 tế bào/mm3) kết hợp với mức albumin thấp (<=3.5 gm/dl), kèm theo thời gian đông máu giảm hoặc không, là các dấu hiệu gợi ý bệnh nhân có xơ gan và suy giảm chức năng gan.

  • Sinh thiết gan

Sinh thiết gan là thủ thuật xâm lấn không nên chỉ định rộng rãi. Trong một số trường hợp nhất định, có thể nên làm sinh thiết gan để quyết định điều trị ở những bệnh nhân có men gan tăng nhẹ hoặc không liên tục. Không làm sinh thiết gan nếu đã có đủ bằng chứng để chỉ định điều trị dựa trên các tiêu chí khác.

  • Sàng lọc ung thư gan thường xuyên

Theo ước tính của tổ chức y tế thế giới, khoảng 70% các trường hợp tử vong do viêm gan B là do ung thư tế bào gan. Cần sàng lọc và phát hiện sớm ung thư gan bằng cả 2 xét nghiệm AFP (Alpha-fetoprotein) và siêu âm gan vì có bệnh nhân mắc ung thư gan mà không có xơ gan và ALT bình thường. Chỉ khoảng 40-60% bệnh nhân ung thư gan có AFP tăng. Siêu âm gan có thể không phát hiện được khoảng 20% các ca ung thư gan, nhất là ở những người bệnh béo phì hoặc có mô gan đồng nhất do gan nhiễm mỡ hoặc xơ gan. Vì vậy, nên kết hợp làm cả 2 xét nghiệm thường xuyên.

  • Xét nghiệm AFP – 6 tháng một lần

AFP là xét nghiệm sử dụng phổ biến nhất để sàng lọc ung thư gan. Kết quả xét nghiệm AFP tăng liên tục hoặc AFP >500 ng/ml thường có mối liên hệ chặt chẽ với ung thư gan (bình thường AFP <10ng/ml). Khoảng 40% bệnh nhân ung thư gan có xét nghiệm AFP bình thường, do vậy cần làm thêm siêu âm gan định kỳ để sàng lọc ung thư gan.

  • Siêu âm gan – 6 tháng một lần

Siêu âm là một trong các phương pháp chẩn đoán hình ảnh để phát hiện khối u trong gan. Siêu âm chỉ có thể phát hiện được khoảng 80% trường hợp ung thư gan, vì vậy nên kết hợp với xét nghiệm AFP. Nếu kết quả siêu âm không rõ ràng (ví dụ ở bệnh nhân có gan nhiễm mỡ hoặc xơ gan) hoặc bệnh nhân có AFP tăng cao, có thể chỉ định chụp cộng hưởng từ hoặc chụp cắt lớp vi tính gan, hoặc giới thiệu bệnh nhân đến bác sĩ chuyên khoa gan mật để đánh giá thêm. Tổn thương đậm gần động mạch gan, mờ dần ở phần nhu mô còn lại ở phần tĩnh mạch là biểu hiện điển hình của ung thư tế bào gan.

  • Tin sử gia đình và xơ gan tăng nguy cơ mắc ung thư gan

Nên làm siêu âm hoặc chụp cắt lớp gan 6 tháng một lần cho bệnh nhân ở mọi lứa tuổi nếu có xơ gan hoặc gia đình có người mắc ung thư gan.

  • Chn đoán phát hiện sớm là đim mu cht đđể kéo dài tuổi thọ cho bệnh nhân ung thư gan

Ung thư gan do viêm gan B mạn thường xảy ra ở nhóm tuổi 30-65. Vì vậy, nên bắt đầu sàng lọc ung thư gan định kỳ ở nam giới sau 30 tuổi và nữ giới sau 50 tuổi.

Chẩn đoán muộn là lý do chính khiến thời gian sống sót sau khi phát hiện ung thư gan rất ngắn (trung bình 6-12 tháng). Tuy nhiên, sàng lọc thường xuyên để phát hiện ung thư gan giai đoạn sớm có thể tăng cơ hội bệnh nhân được điều trị bằng thuốc hoặc phẫu thuật kịp thời và kéo dài tuổi thọ.

Sàng lọc ung thư gan rất quan trọng vì:

– Hầu hết bệnh nhân ung thư gan không có biểu hiện gì và cảm thấy hoàn toàn khỏe mạnh cho đến khi bệnh đã ở giai đoạn muộn

– Các khối u nhỏ trong gan không sờ hoặc cảm nhận được vì vị trí của gan nằm sâu sau xương sườn.

– Bệnh nhân thường không có cảm giác đau cho đến khi khối u đã to. Nhiều trường hợp khối u to nhưng vẫn không có cảm giác đau.

– Ung thư gan tiến triển rất nhanh.

MỘT SỐ CÂU HỎI THƯỜNG GẶP

Hỏi: Bác sĩ nói tôi bị viêm gan B mạn, tuy nhiên kết quả xét nghiệm chức năng gan của tôi bình thường và tôi là “người mang virus”. Điu đó có nghĩa như thế nào?

Đáp: Gọi là “người mang virus” là không hoàn toàn chính xác. Bạn đang mắc viêm gan B mạn. Nhiều người mắc viêm gan B mạn không có triệu chứng gì và có kết quả xét nghiệm chức năng gan hoàn toàn bình thường. Tuy nhiên, họ vẫn có thể có tổn thương gan và ung thư gan. Vì vậy, cần luôn khám định kỳ để theo dõi tổn thương gan (xét nghiệm ALT 6 tháng/lần) và sàng lọc phát hiện sớm ung thư gan (xét nghiệm AFP 6 tháng/lần và siêu âm gan 1 năm/lần).

Hỏi: Viêm gan B có lây truyn qua thức ăn và đồ uống không?

Đáp: Không. Virus viêm gan B lây truyền giống như HIV: từ mẹ sang con, qua đường máu và qua quan hệ tình dục không bảo vệ. Có một loại virus viêm gan khác là viêm gan A lây qua thức ăn và nước uống.

Hỏi: Nếu tôi bị viêm gan B mạn, liệu tôi có chết vì ung thư gan hoặc suy gan không?

Đáp: Người mắc viêm gan mạn có thể sống khỏe mạnh. Cần thường xuyên xét nghiệm ALT, AFT 6 tháng một lần và siêu âm gan hàng năm để phát hiện sớm tổn thương gan hoặc ung thư gan để điều trị sớm.

Hỏi: Nếu tôi có thai và mắc viêm gan B mạn, liệu con sinh ra có mắc viêm gan B không

Đáp: Viêm gan B không di truyền. Mẹ mang thai có tải lượng virus cao và HBeAg + rất dễ truyền virus sang trẻ sơ sinh. Có thể dự phòng lây từ mẹ sang con bằng cách tiêm cho trẻ 1 mũi huyết thanh viêm gan B trong 12 giờ đầu sau sinh, 1 mũi vaccine viêm gan B trong 24 giờ đầu sau sinh. Sau đó, cần tiêm đủ 3 mũi vaccine vào tháng 2, 3 và 4. Như vậy, có thể phòng tới 95% trường hợp lây từ mẹ sang con.

Ngoài ra, cần xét nghiệm HBsAg và Anti-HBs cho trẻ sau 1-2 tháng để chắc chắn trẻ đã có miễn dịch bảo vệ. Nếu trẻ chưa đạt miễn dịch bảo vệ thì cần tiêm tiếp liệu trình 3 mũi vaccine và xét nghiệm lại.

Hỏi: Tôi đã tiêm phòng 3 mũi vaccine. Tôi có cần tiêm nhắc lại hoặc tiêm bổ sung không?

Đáp: Thông thường nếu đã tiêm đủ 3 mũi vaccine sẽ tạo ra miễn dịch bảo vệ lâu dài và không cần tiêm liều bổ sung.

Tuy nhiên, một số người (như trẻ sinh từ mẹ mắc viêm gan B mạn, người nhiễm HIV và nhân viên y tế) nên xét nghiệm Anti-HBs 1-2 tháng sau khi hoàn thành các mũi vaccine để xem đã tạo được miễn dịch bảo vệ chưa để quyết định có nên tiêm bổ sung hay không.

Hỏi: Tại sao phải tiêm vaccine viêm gan B trong 24 giờ đầu sau sinh?

Đáp: Có nhiều lý do phải tiêm phòng viêm gan B cho trẻ trong 24 giờ đầu sau sinh:

– Đây là cách tốt nhất để phòng lây truyền từ mẹ sang con. Điều này đặc biệt quan trọng vì 90% trẻ sơ sinh nhiễm viêm gan B truyền từ mẹ sẽ có nguy cơ tiến triển thành bệnh gan mạn, 25% số đó có nguy cơ tử vong sớm vì ung thư gan hoặc xơ gan

– Tại Việt Nam, việc xét nghiệm và chẩn đoán viêm gan B ở phụ nữ mang thai chưa phổ biến. Đại đa số phụ nữ mang thai mắc viêm gan B mạn không biết là mình mắc bệnh. Vì vậy, tiêm vaccine cho trẻ sơ sinh là biện pháp phòng bệnh chủ động hiệu quả.

Hỏi: Viêm gan B có hay gặp ở người Việt Nam hay không? Tại sao?

Đáp: Viêm gan B là bệnh có tỷ lệ mắc rất cao tại Việt Nam. Cứ khoảng 8 người sẽ có 1 người mắc viêm gan B mạn. Có nhiều lý do dẫn tới tỷ lệ mắc cao như bệnh tiến triển âm thầm, thực hành và nhận thức về các biện pháp phòng bệnh hạn chế. Tiêm vaccine phòng viêm gan B cho trẻ sơ sinh mới bắt đầu được triển khai vào năm 2006 và tỷ lệ trẻ được tiêm trong vòng 24 giờ đầu cho trẻ còn thấp.

 

Để được tư vấn trực tiếp, Quý Khách vui lòng liên hệ:

PHÒNG KHÁM ĐA KHOA QUỐC TẾ VIỆT HEALTHCARE

16 – 18 Lý Thường Kiệt, Phường 7, Quận 10, Tp. HCM

Hotline: 09 0133 0133 – 0383 158 179 – 0353 119 739 028 9999 2899

www.viethealthcareclinic.com

Fanpage: https://www.facebook.com/pkdkviethealthcare

Zalo OA: Phòng khám Đa khoa Việt Healthcare

Bác sĩ Chịu trách nhiệm Chuyên môn: Bác sĩ CKII LÂM KIM PHƯỢNG

Giấy phép hoạt động số 08143 / HCM-GPHD

Thời gian làm việc:         Thứ 2 đến thứ 7         từ 6h00 – 21h00

                                         Chủ Nhật                     từ 6h00 – 12h00

Đặt lịch khám online

TIN TỨC MỚI

ĐĂNG KÝ KHÁM

    BÀI VIẾT LIÊN QUAN